Tìm nguyện vọng
Home » Tư liệu » Qui chế Qui định » Qui chế TS ĐH, CĐ
  Số liệu thống kê
  Biểu đồ các năm
  Thi ĐH,CĐ 2006
  Thi ĐH,CĐ 2005
  Qui chế Qui định
  Qui chế ĐT ĐH, CĐ
  Qui chế TS ĐH, CĐ
  Qui chế thi TCCN
  Qui chế THPT
  Các biểu mẫu
  Chương trình khung
  Văn bản Pháp qui
  Nghị định
  Luật Giáo dục

Thông tin website
Bộ Giáo dục và Đào tạo Cục Công nghệ thông tin.
Địa chỉ: Số 49 - Đại Cồ Việt - Hà Nội. Tel:8695712 Fax: 8693712 Email: cit@moet.edu.vn
Qui chế Tuyển sinh ĐH, CĐ - Phần 2 | TS
Cập nhật: 23/01/06Quay lại | Bản in | Gửi mail

Qui chế Tuyển sinh ĐH, CĐ - Phần 2

CHƯƠNG III
CÁC QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ CÔNG TÁC TUYỂN SINH MỤC 1 CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHO KỲ THI
Điều 17. Quy định về khối thi, môn thi, thời gian thi và phòng thi. Tổ chức nhận hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT và gửi giấy báo thi cho thí sinh 
1. Khối thi và môn thi của các trường, ngành không thuộc diện năng khiếu: 
- Khối A thi các môn: Toán, Lý, Hoá. 
- Khối B thi các môn: Toán, Sinh, Hoá. 
- Khối C thi các môn: Văn, Sử, Địa. 
- Khối D thi các môn: Văn, Toán, Ngoại ngữ. 
2. Khối thi và môn thi của các trường, ngành năng khiếu: 
- Khối N thi các môn: Văn, Kiến thức âm nhạc, năng khiếu chuyên ngành. 
- Khối H thi các môn: Văn, Hội hoạ, Bố cục. 
- Khối M thi các môn: Văn, Toán, Đọc, kể diễn cảm và hát. 
- Khối T thi các môn: Toán, Sinh, Năng khiếu TDTT. 
- Khối V thi các môn: Toán, Lý, Vẽ mỹ thuật. 
- Khối S (điện ảnh) thi các môn: Văn, 2 môn Năng khiếu chuyên ngành. 
- Báo chí thi các môn: Văn, Sử, Năng khiếu báo chí. 
Thời gian làm bài của mỗi môn thi do HĐTS trường quyết định nếu thi theo đề thi riêng, do Bộ GD&ĐT quyết định nếu thi theo đề thi chung của Bộ GD&ĐT và được công bố công khai trước kỳ thi 3 tháng. Thí sinh phải thi đủ số môn do trường quy định. Thí sinh vắng không dự thi đủ ba môn, không được xét tuyển. 
3. Thời gian quy định cho kỳ thi tuyển sinh vào các trường ĐH, CĐ là 4 ngày. Ngày đầu để làm thủ tục dự thi. Ngày thứ hai và thứ ba làm bài thi và ngày cuối cùng dự trữ cho trường hợp cần thiết. 
Lịch thi từng ngày do Ban Chỉ đạo tuyển sinh của Bộ GD&ĐT (đối với các trường sử dụng đề thi chung của Bộ GD&ĐT) hoặc do Chủ tịch HĐTS trường quyết định. 
4. Trước kỳ thi chậm nhất là 1 tuần, HĐTS trường phải tổ chức các điểm thi và chuẩn bị đủ số phòng thi cần thiết. Mỗi phòng thi phải có đủ ánh sáng, bàn, ghế, phấn, bảng. Khoảng cách giữa hai thí sinh liền kề nhau phải từ 1,2m trở lên. Vị trí phòng thi phải an toàn, yên tĩnh. Mỗi phòng thi phải có hai cán bộ coi thi. 
5. Hiệu trưởng (hoặc Chủ tịch HĐTS) giao cho Phòng Đào tạo (hoặc Ban Thư ký) tổ chức nhận hồ sơ ĐKDT, lệ phí ĐKDT và gửi giấy báo thi cho thí sinh theo quy định tại Điều 8 Quy chế Tuyển sinh, đồng thời chỉ đạo bộ phận máy tính triển khai hoạt động theo quy định tại Điều 22 Quy chế Tuyển sinh. 
Điều 18. Yêu cầu về nội dung đề thi 
1) Đề thi vào các trường ĐH, CĐ phải đạt được các yêu cầu về kiểm tra những kiến thức cơ bản, khả năng vận dụng và kỹ năng thực hành của thí sinh trong phạm vi chương trình THPT chủ yếu là chương trình lớp 12, phù hợp với quy định về điều chỉnh nội dung học tập bậc trung học (cấp THPT). Đặc biệt lưu ý: Đề thi môn Văn và môn Toán phải bám sát bộ sách giáo khoa chỉnh lý hợp nhất đã ban hành trong năm 2000. 
Nội dung đề thi phải bảo đảm tính khoa học, chính xác, chặt chẽ. Lời văn, câu chữ phải rõ ràng, không có sai sót. 
Đề thi phải đạt yêu cầu phân loại được trình độ học lực của thí sinh và phù hợp với thời gian quy định cho mỗi môn thi. Đề thi Toán khối A phải khó hơn đề thi Toán khối B và đề thi Toán khối B phải khó hơn đề thi Toán khối D. Đề thi Hoá khối A phải khó hơn đề thi Hoá khối B. Đề thi Văn khối C phải khó hơn đề thi Văn khối D. 
2) Không được phép có sai sót về nội dung đề thi. Không ra đề ngoài chương trình và vượt chương trình THPT. Không ra đề vào những phần đã được giảm tải, cắt bỏ, kể cả những phần đã chuyển sang phần đọc thêm (phần chữ nhỏ, các phần đã ghi trong văn bản quy định về điều chỉnh chương trình). Không ra đề vào những phần, những ý còn đang tranh luận về mặt khoa học hoặc có nhiều cách giải. Không ra đề quá khó, có nhiều câu quá khó, quá phức tạp. Không ra đề lắt léo, mang tính đánh đố. 
3) Bám sát chương trình, nội dung sách giáo khoa THPT (theo từng bộ môn). Có nhiều câu để kiểm tra bao quát chương trình THPT, chủ yếu là chương trình lớp 12, bảo đảm cân đối giữa các phần trong chương trình, đúng các quy định về điều chỉnh nội dung môn học từ năm học 2000-2001. Thống nhất các ký hiệu, thuật ngữ theo quy định hiện hành. 
Điều 19. Quy trình ra đề thi 
A. Đối với đề thi dùng chung do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn 
Việc biên soạn đề thi tuyển sinh ĐH, CĐ được tổ chức tại một địa điểm biệt lập, được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy trình sau đây: 
1) Trưởng ban Đề thi tổ chức quán triệt các yêu cầu về nội dung đề thi, quy trình làm đề thi, yêu cầu bảo mật cho các Trưởng môn thi và các cán bộ tham gia biên soạn đề thi. 
2) Trưởng môn thi chỉ đạo các cán bộ bộ môn độc lập biên soạn đề thi, đáp án chi tiết và thang điểm. Đối với một số môn khoa học xã hội, phải bốc thăm chọn chủ đề một cách ngẫu nhiên, sau đó các cán bộ ra đề thi theo các chủ đề đã chọn. 
3) Trưởng môn thi làm việc với từng cán bộ biên soạn đề thi để hoàn chỉnh đề thi, đáp án và thang điểm. Trong đề thi phát cho thí sinh có ghi điểm cho từng câu.
4) Tổ chức phản biện với 3 người làm bài độc lập. Người làm phản biện không tiếp xúc với người ra đề, không mang theo bất kỳ tài liệu nào, không có đáp án và thang điểm, trực tiếp giải chi tiết đề thi (có bấm giờ). Sau đó, đề xuất ý kiến bằng văn bản với Trưởng môn thi về nội dung đề thi, đáp án, thang điểm, độ khó, độ dài của đề. Sau khi phản biện, người ra đề và người phản biện, dưới sự chủ trì của Trưởng môn thi, phải họp lại để thống nhất ý kiến (có ghi biên bản) về những điểm cần sửa chữa, bổ sung, thống nhất các phương án tổ hợp đề để không dùng nguyên đề do một cán bộ chủ trì biên soạn. 
5) Sau khi tu chỉnh lần cuối đề thi, đáp án và thang điểm, với sự đóng góp ý kiến của các cán bộ biên soạn đề và phản biện đề của từng môn, Trưởng môn thi ký tên vào bản gốc và giao cho Trưởng Ban Đề thi. 
6) Trưởng Ban Đề thi tự mã hoá các đề thi dự kiến theo ký hiệu I, II, III... và trình Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quyết định đề thi chính thức và các đề thi dự bị. 
Toàn bộ đề chính thức và đề dự bị, các đáp án và thang điểm cùng tất cả các tài liệu liên quan trong quá trình soạn thảo đề thi đều là tài liệu mật và phải nộp cho Trưởng Ban Đề thi cất giữ theo chế độ bảo mật. 
7) Trưởng Ban Đề thi trực tiếp chỉ đạo việc đánh máy vi tính, in, đóng gói bằng 3 lớp phong bì đủ đen và bền có kích cỡ từ nhỏ đến lớn, có nhãn niêm phong, bảo quản, phân phối đề thi theo quy trình bảo mật. 
B. Đối với các trường tự ra đề thi 
Bước 1 
Tuỳ theo tình hình cụ thể của từng trường, đối với mỗi môn thi, Trưởng Ban Đề thi chỉ định một số giảng viên có tinh thần trách nhiệm cao và trình độ chuyên môn giỏi tham gia giới thiệu đề thi.
Người giới thiệu đề thi phải căn cứ vào yêu cầu, nội dung đề thi tuyển sinh, đối tượng và trình độ thí sinh dự thi và những yêu cầu cụ thể khác của Trưởng Ban Đề thi để biên soạn và giới thiệu đề thi kèm theo đáp án và thang điểm chi tiết. 
Trong thời hạn quy định của Trưởng Ban Đề thi, người giới thiệu đề thi phải nộp bản gốc viết tay cho Trưởng Ban Đề thi. Không được đánh máy, sao chép thành nhiều bản, không lưu giữ riêng và không đem nội dung đề đã giới thiệu để giảng dạy, phụ đạo, luyện thi hoặc lấy những bài đã sử dụng để giảng dạy, phụ đạo, luyện thi làm đề thi. 
Bước 2 
Trước ngày thi môn đầu tiên, tại địa điểm cách ly với môi trường bên ngoài, Trưởng Ban Đề thi làm việc trực tiếp và độc lập lần lượt với từng Trưởng môn thi với sự có mặt của Uỷ viên thường trực Ban Đề thi. 
Trên cơ sở những đề đã được giới thiệu, Trưởng môn thi lựa chọn các câu hỏi từ những đề khác nhau để tổ hợp thành hai, ba đề mới. Sau đó biên soạn đáp án và thang điểm chi tiết cho từng đề rồi trình Trưởng Ban Đề thi xem xét. 
Trưởng Ban Đề thi có thể thay đổi thứ tự các câu hỏi, thay câu này bằng câu khác hoặc yêu cầu Trưởng môn thi biên soạn lại. Căn cứ ý kiến của Trưởng Ban Đề thi, Trưởng môn thi hoàn chỉnh lại lần cuối đề thi dự kiến kèm theo đáp án và thang điểm chi tiết, ký tên vào bản gốc và giao cho Trưởng Ban Đề thi. 
Bước 3 
Trưởng Ban Đề thi tổ chức phản biện đề thi theo quy định tại mục A khoản 4 của Điều này.
Trưởng Ban Đề thi tự mã hoá các đề thi dự kiến theo ký hiệu I, II, III... và tổ chức chọn một trong hai, ba đề dự kiến làm đề thi chính thức, các đề còn lại làm đề dự bị, đồng thời quyết định thang điểm cho từng phần của đề thi chính thức và dự bị. 
Toàn bộ các đề thi do các giảng viên giới thiệu, đề dự kiến do Trưởng môn thi biên soạn, đề chính thức và đề dự bị, các đáp án và thang điểm cùng tất cả các tài liệu liên quan, đều là tài liệu mật do chính Trưởng Ban Đề thi cất giữ theo chế độ bảo mật. 
Bước 4 
Trưởng Ban Đề thi chỉ đạo việc đánh máy, in, đóng gói, bảo quản, phân phối, sử dụng đề thi theo quy định tại Điều 20 của Quy chế Tuyển sinh. 
Điều 20. Quy định về bảo mật đề thi 
1. Quy định đối với người tham gia làm đề và nơi làm đề 
Đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng nằm trong danh mục tài liệu bí mật quốc gia. Quá trình làm đề thi, chuyển giao đề thi tới các cơ sở được giao nhiệm vụ sao in đề thi, quá trình sao in, đóng gói đề thi, chuyển giao tới các điểm thi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định sau đây: 
- Danh sách những người tham gia làm đề được giữ bí mật. Người tham gia làm đề thi không được tiết lộ việc mình tham gia làm đề thi. 
- Nơi làm đề thi phải là một địa điểm an toàn, kín đáo, biệt lập và được bảo vệ nghiêm mật suốt thời gian làm đề thi, có đầy đủ điều kiện về thông tin liên lạc, phương tiện bảo mật, phòng cháy, chữa cháy. Người làm việc trong khu vực làm đề thi phải đeo phù hiệu riêng và chỉ hoạt động trong phạm vi cho phép. 
- Tất cả mọi người tham gia làm đề thi từ khi tiếp xúc với đề thi đều phải hoàn toàn cách ly với môi trường bên ngoài, không được dùng điện thoại cố định hoặc điện thoại di động hay bất kỳ phương tiện thông tin liên lạc nào khác. Trong trường hợp cần thiết, chỉ Trưởng Ban Đề thi mới được liên hệ với Chủ tịch HĐTS bằng điện thoại dưới sự giám sát của cán bộ bảo vệ. Cán bộ tham gia biên soạn, phản biện đề thi và những người phục vụ Ban Đề thi tại nơi làm đề chỉ được ra khỏi khu vực cách ly sau khi đã thi xong môn cuối cùng của đợt thi thứ 2. Trưởng môn thi và các cán bộ làm đề thi phải thường trực trong suốt thời gian sao in đề thi và trong thời gian thí sinh làm bài thi của môn thi do mình phụ trách để giải đáp và xử lý các vấn đề liên quan đến đề thi. Riêng Trưởng môn thi phải trực trong thời gian chấm thi. 
- Việc đánh máy, in, đóng gói, bảo quản, phân phối, sử dụng đề thi được tiến hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trưởng Ban Đề thi. 
2. Đánh máy và in đề thi 
- Trưởng môn thi trực tiếp chế bản đề thi trên máy tính và in thử hoặc giao cho cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao chế bản và in thử, sau đó kiểm tra lại trước khi in chính thức. 
- Đề thi phải được đánh máy và in thử rõ ràng, chính xác, sạch, đẹp, đúng quy cách. Các giấy tờ đánh máy hoặc in hỏng và bản gốc đề thi phải nộp cho Trưởng Ban Đề thi quản lý, không được cho vào sọt rác. Không đổ rác trong thời gian làm đề. 
- Đánh máy hoặc in dứt điểm từng đề. Chỉ tiếp tục đánh máy hoặc in đề khác sau khi đã kiểm tra khu vực đánh máy và in, thu dọn và giao cho Trưởng Ban Đề thi mọi giấy tờ liên quan đến đề vừa làm trước đó. 
- Tuyệt đối không đánh máy hoặc in đáp án đề thi trước khi thi xong môn đó. - Trưởng môn thi và Trưởng Ban Đề thi nhất thiết phải kiểm tra kỹ bản in thử rồi cả 2 người cùng ký duyệt trước khi in. 
- Trong quá trình in, Trưởng môn thi phải kiểm tra chất lượng bản in. Các bản in thử phải được thu lại và bảo quản theo chế độ tài liệu mật. 
3. Chuyển giao đề thi cho các trường dùng chung đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo 
Theo đúng kế hoạch, Ban Chỉ đạo tuyển sinh Bộ GD&ĐT chuyển giao đề thi cho Trưởng ban Đề thi của các trường được giao nhiệm vụ sao in đề. Các trường được giao nhiệm vụ sao in đề có trách nhiệm sao in, đóng gói đề thi theo đúng yêu cầu của các trường nhận đề thi. 
Theo đúng kế hoạch của Ban Chỉ đạo tuyển sinh Bộ GD&ĐT, Trưởng ban Đề thi của các trường sử dụng chung đề thi đến nơi sao in đề để nhận đề thi cho trường mình. 
Khi đến nhận đề thi từ nơi sao in đề, các trường phải mang theo ôtô, vali hoặc hòm có khoá bảo mật, đi cùng với đại diện công an địa phương được ngành công an phân công giám sát việc tiếp nhận, vận chuyển, in, đóng gói và phân phối đề thi của trường. 
- Trong trường hợp dùng chung đề thi của Bộ GD&ĐT, đề thi chỉ giao cho Trưởng Ban Đề thi của từng trường với sự chứng kiến của Uỷ viên thư ký HĐTS trường, cán bộ công an địa phương được cử giám sát bảo vệ đề thi và đại diện của Bộ GD&ĐT được cử giám sát kỳ thi tại trường.
Việc in, đóng gói, phân phối, sử dụng và bảo quản đề thi tại trường do HĐTS các trường thực hiện theo quy định tại Điều này. 
4. Đóng gói đề thi 
- Uỷ viên thường trực Ban Đề thi nắm vững số lượng thí sinh của từng khối, từng ngành, địa điểm thi của trường để phân phối đề thi, ghi tên địa điểm thi, phòng thi và số lượng đề thi vào từng phong bì, sau đó giao cho người phụ trách đóng gói, hoặc tự mình trực tiếp cho đề thi vào từng phong bì. 
- Người đóng gói đề thi phải làm đúng quy cách thủ tục, bảo đảm đúng số lượng đề thi, đúng môn thi ghi ở phong bì đề thi, đủ số lượng đề thi cho từng điểm thi, từng phòng thi, không có tờ trắng, tờ hỏng. 
- Phong bì đề thi làm bằng giấy đủ kín tối được dán chặt, không bong mép, có đủ nhãn và dấu niêm phong (nửa dấu in vào nhãn, nửa dấu in vào phong bì). 
- Sau khi đóng gói xong đề thi từng môn, Uỷ viên thường trực Ban Đề thi kiểm tra đủ số lượng phong bì đã đóng gói và bàn giao cho Trưởng ban Đề thi quản lý, kể cả các bản in thừa, in hỏng, mờ, xấu, rách, bẩn đã bị loại ra. 
5. Bảo quản và phân phối đề thi 
- Đề thi phải bảo quản trong hòm, tủ, hay két sắt, có khoá chắc chắn, niêm phong kỹ và có người bảo vệ thường xuyên. Chìa khoá hòm, tủ hay két sắt do Trưởng ban Đề thi giữ. 
- Lịch phân phối đề thi từng buổi cho các điểm thi do Trưởng ban Đề thi chỉ đạo thực hiện theo đúng lịch quy định của Ban Chỉ đạo tuyển sinh của Bộ GD&ĐT (với các trường dùng chung đề) hoặc của Hiệu trưởng (với các trường tự ra đề). Khi giao nhận đề thi phải có biên bản. Khi đưa đề thi đến các điểm thi phải có công an bảo vệ, nếu điểm thi ở xa phải đi bằng ô tô riêng. 
6. Sử dụng đề thi chính thức và dự bị 
- Đề thi chính thức chỉ được mở để sử dụng tại phòng thi đúng ngày, giờ và môn thi do Chủ tịch HĐTS quy định thống nhất cho mỗi kỳ thi và được dùng để đối chiếu, kiểm tra đề đã phát cho thí sinh. 
- Đề thi dự bị chỉ sử dụng trong trường hợp đề thi chính thức bị lộ, khi có đủ bằng chứng xác thực và có kết luận chính thức của HĐTS trường và cơ quan Công an địa phương theo quy định tại Điều 21 của Quy chế Tuyển sinh. 
Điều 21. Những sự cố có thể xảy ra đối với đề thi và phương án xử lý, khắc phục hậu quả 
1) In và phát đề thi sai lịch thi đã công bố, hoặc không đúng mã số đề thi quy định. Đây là tình huống rất nguy hiểm coi như bị lộ đề. 
- Để loại trừ hoàn toàn tình huống này, trước khi in mỗi đề thi, Ban Đề thi của từng HĐTS nhất thiết phải đọc lại các văn bản hướng dẫn về lịch thi; đối chiếu, kiểm tra mã số đề thi cho từng môn rồi từng người ký xác nhận. Phải chỉ đạo in từng đề theo quy định tại Điều 20 Quy chế Tuyển sinh.
- Nếu xảy ra sự cố phải báo cáo ngay với Bộ GD&ĐT để có phương án xử lý. Nếu thấy ký hiệu hoặc nội dung đề không phù hợp với văn bản hướng dẫn mật của Bộ thì báo cáo ngay với Ban Đề thi của Bộ; nếu đang in hoặc khi in xong đề nào đó mới phát hiện tình huống trên thì ngừng việc in và niêm phong lại, in tiếp đề khác theo đúng quy định. 
2) Trường hợp đề thi còn có những sai sót (có thể từ đề thi gốc hoặc do sao chụp, in sao) hoặc đề bị lộ
a) Nếu phát hiện được sai sót trong đề thi, các cán bộ coi thi phải báo cáo ngay với HĐTS trường và HĐTS trường báo cáo ngay với Bộ GD&ĐT để có phương án xử lý thích hợp. 
b) Tuỳ theo tính chất và mức độ sai nặng hay nhẹ, tuỳ theo sai sót xảy ra ở một câu hay nhiều câu của đề thi, tuỳ theo thời gian phát hiện sớm hay muộn, Chủ tịch HĐTS trường, sau khi xin ý kiến của Bộ GD&ĐT, phải cân nhắc và quyết định xử lý theo một trong các phương án: 
- Ra lệnh cho các HĐTS hoặc các điểm thi sửa chữa kịp thời các sai sót, thông báo cho thí sinh biết, nhưng không kéo dài thời gian làm bài. 
- Ra lệnh sửa chữa, thông báo cho thí sinh biết và kéo dài thích đáng thời gian làm bài cho thí sinh. 
- Không sửa chữa, cứ để thí sinh làm bài, nhưng phải xử lý khi chấm thi (có thể điều chỉnh đáp án và thang điểm cho thích hợp). 
- Tổ chức thi lại môn đó vào ngay sau buổi thi cuối cùng bằng đề thi dự bị. 
Chỉ có Trưởng Ban Chỉ đạo thi tuyển sinh của Bộ GD&ĐT (đối với đề thi chung do Bộ GD&ĐT biên soạn) hoặc Chủ tịch HĐTS trường mới có thẩm quyền kết luận về tình huống lộ đề thi. Khi đề thi chính thức bị lộ, Trưởng ban Chỉ đạo tuyển sinh của Bộ GD&ĐT (đối với đề thi chung do Bộ GD&ĐT biên soạn) hoặc Chủ tịch HĐTS trường quyết định đình chỉ môn thi bị lộ, thông báo cho thí sinh biết. Các buổi thi môn khác vẫn tiếp tục bình thường theo lịch. Môn bị lộ sẽ được thi ngay sau buổi thi cuối cùng. 
Sau khi thi, Bộ GD&ĐT, HĐTS trường sẽ phối hợp với các ngành chức năng để kiểm tra, xác minh, kết luận nguyên nhân lộ đề, người làm lộ đề và những người liên quan, tiến hành truy cứu trách nhiệm và xử lý theo quy định của pháp luật. 
3) Trường hợp thiên tai lớn xảy ra bất thường trong những ngày thi tuyển sinh ở một hay nhiều vùng 
Nếu thiên tai lớn xảy ra trên quy mô toàn quốc, Bộ GD&ĐT có thể ra lệnh lùi buổi thi. 
Nếu xảy ra trên phạm vi hẹp của một số địa phương, hoặc một số trường, phải huy động sự hỗ trợ của các lực lượng trên địa bàn dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ và chính quyền các địa phương, kể cả việc phải thay đổi địa điểm thi. Nếu xảy ra tình huống hoàn toàn bất khả kháng thì HĐTS báo cáo Ban Chỉ đạo tuyển sinh của Bộ GD&ĐT cho phép lùi một hoặc hai môn thi vào ngay sau buổi thi cuối cùng với đề dự bị; các môn còn lại vẫn thi theo lịch chung. 
Điều 22. Các quy định về sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong công tác tuyển sinh 
Các trường ĐH, CĐ, các Sở GD&ĐT phải cử cán bộ đủ trình độ làm chuyên trách công nghệ thông tin, chuẩn bị đủ máy vi tính, máy in, lập địa chỉ e-mail; thực hiện đúng phần mềm tuyển sinh ĐH, CĐ của Bộ GD&ĐT (về cấu trúc, quy trình, thời hạn xử lý dữ liệu tuyển sinh) trong các khâu công tác sau đây: 
1. Nhập dữ liệu tuyển sinh từ hồ sơ ĐKDT của thí sinh và truyền dữ liệu cho Bộ GD&ĐT, cho các trường. 
2. Đánh số báo danh và lập danh sách thí sinh dự thi. 
3. Lập danh sách phòng thi căn cứ tên thí sinh theo vần A, B, C... theo từng khối, ngành. Tuyệt đối không được xếp phòng thi theo cách gom học sinh từng địa phương vào các số thứ tự gần nhau. 
4. In giấy báo thi cho từng thí sinh (có thể kết hợp dùng làm thẻ dự thi). 
5. Lập các biểu mẫu thống kê về số lượng thí sinh dự thi theo khối ngành, theo tỉnh và đối tượng rồi truyền về Bộ GD&ĐT trước ngày 30/5 hằng năm. 
6. Công bố trên mạng Giáo dục (www.edu.net.vn )và trên các phương tiện thông tin đại chúng: đề thi, đáp án, thang điểm và hướng dẫn chấm theo quyết định của Bộ GD&ĐT. 
7. Lập biểu mẫu chấm thi bao gồm bản hướng dẫn dồn túi, bản đối chiếu số báo danh - phách và biên bản chấm thi. 
a) Bản hướng dẫn dồn túi là tài liệu để Ban Thư ký HĐTS trường dồn các bài thi vào các túi chấm thi. Vì vậy, mỗi môn thi, mỗi ngành được dồn túi theo các quy luật khác nhau và phải tuân theo nguyên tắc sau: 
- Trong mỗi môn thi, khối ngành, quy luật dồn túi phải do máy tính tự động thực hiện. Mỗi một túi chấm thi không được dồn quá 50 bài. Trong mỗi túi không dồn trọn vẹn bài của một phòng thi.
- Sau khi in xong bản hướng dẫn dồn túi, mỗi môn, ngành cho vào một phong bì ghi rõ tên môn thi ở bên ngoài và niêm phong bảo mật. 
b) Bản đối chiếu số báo danh - phách là tài liệu để Ban Thư ký HĐTS trường đánh số phách vào bài thi của thí sinh. 
Căn cứ vào bản hướng dẫn dồn túi, tiến hành đánh số phách của từng môn và từng ngành theo thứ tự tăng dần qua từng túi, số phách phải đánh bắt đầu từ một số ngẫu nhiên và do máy tính thực hiện tự động. Số phách phải đơn trị trong từng môn, giữa các môn, ngành không được trùng nhau về quy luật. 
Khi in xong, các bản đối chiếu số báo danh - phách của mỗi môn thi, ngành phải được đưa riêng vào từng phong bì, ghi rõ tên môn thi ở bên ngoài và niêm phong bảo mật. 
c) Biên bản chấm thi (biểu số 4) là tài liệu để cán bộ chấm thi ghi kết quả chấm thi từng bài sau khi đã chấm hai vòng độc lập. 
Điểm phải ghi cả phần chữ và số, nếu có sửa chữa, Ban Chấm thi phải ký tên đóng dấu. 
Bản hướng dẫn dồn túi, bản đối chiếu số báo danh - phách, biên bản chấm thi và tất cả các tài liệu, phương tiện lưu giữ thông tin có liên quan như đĩa mềm, chương trình v.v. .. là những tài liệu tuyệt mật do Chủ tịch HĐTS trường cất giữ theo chế độ bảo mật. 
8. Sau khi có kết quả chấm thi: 
- Trước 15/8 hàng năm, gửi dữ liệu kết quả chấm thi cho Bộ Giáo dục và Đào tạo theo đúng cấu trúc quy định. 
- Lập thống kê điểm theo đối tượng, khu vực, ngành học để xây dựng điểm trúng tuyển. 
- Công bố kết quả thi của thí sinh trên mạng Giáo dục (www.edu.net.vn) và trên các phương tiện thông tin đại chúng. 
- In Giấy báo trúng tuyển cho thí sinh trúng tuyển, trong đó ghi rõ kết quả thi của thí sinh. 
- In Giấy chứng nhận kết quả thi theo đúng mẫu quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thí sinh không trúng tuyển nhưng có kết quả thi bằng hoặc cao hơn điểm sàn xét tuyển. 
Giấy chứng nhận kết quả thi chỉ in một lần và đóng dấu đỏ của trường. Trường hợp thí sinh bị mất không in cấp lại mà chỉ cấp giấy xác nhận điểm thi. 
- In Giấy báo điểm cho thí sinh có kết quả thi thấp dưới điểm sàn xét tuyển. 
- In sổ điểm. 
9. Tiến hành kiểm tra đối chiếu xem điểm đã nhập vào máy, đã in trên giấy báo trúng tuyển, giấy chứng nhận điểm và sổ điểm có khớp với điểm đã ghi ở Biên bản chấm thi (Biểu số 4) hay không. Nếu có sai sót phải sửa ngay. 
Người thực hiện khâu kiểm tra này phải ký biên bản xác nhận và chịu trách nhiệm về công tác kiểm tra. 
10. Công bố danh sách thí sinh trúng tuyển trên mạng Giáo dục (www.edu.net.vn)và trên các phương tiện thông tin đại chúng. 
MỤC 2 
CÔNG TÁC TỔ CHỨC KỲ THI 
Điều 23. Làm thủ tục dự thi cho thí sinh 
1. Trước ngày thi, Ban Thư ký hoàn thành danh sách thí sinh của từng phòng thi để dán trước mỗi phòng thi. Mỗi phòng thi có một bản danh sách bằng ảnh của thí sinh để trao cho cán bộ coi thi đối chiếu kiểm tra trong các buổi thi. 
2. Theo đúng lịch thi đã công bố, trong ngày đầu tiên của kỳ thi, Ban Thư ký phân công cán bộ phổ biến quy chế thi, hướng dẫn thí sinh đến phòng thi, thu lệ phí dự thi của thí sinh, bổ sung, điều chỉnh những sai sót về họ tên, đối tượng, hộ khẩu thường trú, môn thi, khối thi, mã ngành của thí sinh. Những bổ sung và điều chỉnh này, cán bộ tuyển sinh của trường phải ghi xác nhận vào tờ phiếu ĐKDT số 2 và cập nhật ngay vào máy tính. 
3. Tại các cụm thi do Bộ GD&ĐT tổ chức. 
- Các trường ĐH có thí sinh dự thi tại cụm thi có trách nhiệm: Trước ngày 20/5 hàng năm, thông báo cho Hội đồng coi thi liên trường số lượng thí sinh dự thi vào trường mình theo từng khối thi. Trước ngày 30/5 gửi giấy báo dự thi cho thí sinh và cử người thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều này. 
- Hội đồng coi thi liên trường có trách nhiệm: trước ngày 25/5 hàng năm, thông báo cho trường có thí sinh dự thi tại cụm thi nơi đặt các điểm thi và số lượng thí sinh mỗi phòng thi của trường đó.
Điều 24. Trách nhiệm của cán bộ coi thi và của các thành viên khác trong Ban Coi thi 
1. Cán bộ coi thi (CBCT) 
CBCT không được làm nhiệm vụ tại điểm thi nơi có người thân (vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) dự thi; không được giúp đỡ thí sinh làm bài dưới bất kỳ hình thức nào; không được làm việc riêng, không được hút thuốc, uống bia, rượu, không được mang theo điện thoại di động trong khi coi thi, phải có mặt đúng giờ và thường xuyên tại phòng thi để làm các nhiệm vụ theo trình tự sau đây: 
- Khi có hiệu lệnh, CBCT thứ nhất gọi tên thí sinh vào phòng thi; CBCT thứ hai kiểm tra các thứ thí sinh mang vào phòng thi, hướng dẫn thí sinh ngồi đúng chỗ quy định, tuyệt đối không để thí sinh mang vào phòng thi mọi tài liệu và vật dụng đã bị cấm theo quy định tại Điều 25 của Quy chế này, sử dụng thẻ dự thi và danh sách bằng ảnh để đối chiếu, nhận diện thí sinh. 
- Khi có hiệu lệnh, CBCT thứ nhất đi nhận đề, CBCT thứ hai nhắc nhở thí sinh những điều cần thiết về kỷ luật phòng thi; ký tên vào tất cả các tờ giấy thi và giấy nháp của thí sinh; hướng dẫn và kiểm tra thí sinh gấp giấy thi đúng quy cách, ghi số báo danh và điền đủ các mục cần thiết vào giấy thi trước khi làm bài. 
- Khi có hiệu lệnh, CBCT thứ nhất giơ cao phong bì đề thi để thí sinh thấy rõ cả mặt trước và mặt sau còn nguyên nhãn niêm phong; bóc phong bì đựng đề thi và phát đề thi cho từng thí sinh (trước khi phát đề cần kiểm tra số lượng đề thi, nếu thừa, thiếu hoặc lẫn đề khác, cần báo ngay cho uỷ viên phụ trách điểm thi xử lý). 
- Khi thí sinh bắt đầu làm bài, CBCT thứ nhất đối chiếu ảnh trong thẻ dự thi với ảnh trong danh sách để nhận diện thí sinh và ký vào tất cả giấy thi, giấy nháp của thí sinh. CBCT thứ hai bao quát chung (không thu thẻ dự thi của thí sinh). Trong giờ làm bài, một CBCT bao quát từ đầu phòng đến cuối phòng, còn người kia bao quát từ cuối phòng đến đầu phòng cho đến hết giờ thi. CBCT không đứng gần thí sinh khi họ làm bài. Khi thí sinh hỏi điều gì, CBCT chỉ được trả lời công khai trong phạm vi quy định. 
- Chỉ cho thí sinh ra khỏi phòng thi và khu vực thi sớm nhất là sau 2/3 thời gian làm bài, sau khi thí sinh đã nộp bài làm và đề thi. Nếu có thí sinh bị đau ốm bất thường hoặc có nhu cầu chính đáng nhất thiết phải tạm thời ra khỏi phòng thi thì CBCT phải báo cho cán bộ giám sát phòng thi để kịp thời báo cáo uỷ viên phụ trách điểm thi giải quyết. 
- Nếu có thí sinh vi phạm kỷ luật thì CBCT phải lập biên bản xử lý theo đúng quy định. Nếu có tình huống bất thường phải báo cáo ngay Uỷ viên phụ trách điểm thi hoặc Trưởng ban Coi thi giải quyết. 
- Mười lăm phút trước khi hết giờ làm bài, thông báo thời gian còn lại cho thí sinh biết. 
- Khi có hiệu lệnh kết thúc buổi thi phải yêu cầu thí sinh ngừng làm bài và thu bài của tất cả thí sinh, kể cả thí sinh đã bị thi hành kỷ luật. Một CBCT vừa bao quát phòng thi vừa gọi tên từng thí sinh lên nộp bài, còn người kia nhận bài thi của thí sinh. Khi nhận bài phải đếm đủ số tờ giấy thi của thí sinh đã nộp, yêu cầu thí sinh tự ghi đúng số tờ và ký tên vào bản danh sách theo dõi thí sinh. Khi nào thu xong toàn bộ bài thi mới cho phép thí sinh rời phòng thi. 
- Các CBCT kiểm tra sắp xếp bài thi theo thứ tự số báo danh. Các biên bản xử lý kỷ luật (nếu có) phải kèm theo bài thi của thí sinh. Sau đó cả hai CBCT đến bàn giao bài thi cho Uỷ viên Ban Thư ký HĐTS trường ngay sau mỗi buổi thi. Mỗi túi bài thi phải được kiểm tra công khai và đối chiếu số bài và số tờ của từng bài kèm theo bản theo dõi thí sinh và các biên bản xử lý kỷ luật cùng tang vật (nếu có). 
- Sau khi bàn giao xong, từng túi đựng bài thi được các Uỷ viên Ban Thư ký niêm phong tại chỗ. Mỗi túi bài thi dán 3 nhãn niêm phong vào chính giữa 3 mép dán. Trên mỗi nhãn phải đóng dấu niêm phong vào bên phải và bên trái của nhãn (một nửa dấu in trên nhãn, một nửa dấu in trên túi bài thi). Uỷ viên Ban Thư ký nhận bàn giao và hai CBCT ghi rõ họ tên và ký trên nhãn niêm phong. 
Tuyệt đối không được để nhầm lẫn, mất mát bài thi. - Sau giờ thi đầu tiên của mỗi môn, một CBCT báo cáo tình hình phòng thi cho Uỷ viên phụ trách điểm thi. 
- CBCT phải bảo vệ đề thi trong khi thi, không để lọt đề thi ra ngoài phòng thi, nộp lại các đề thi thừa cho Uỷ viên phụ trách điểm thi để niêm phong và giao cho Chủ tịch HĐTS. CBCT và những người làm nhiệm vụ phục vụ kỳ thi không được thảo luận, sao chép, giải đề, mang đề ra ngoài hoặc giải thích đề thi cho thí sinh. 
2. Cán bộ giám sát phòng thi 
Cán bộ giám sát phòng thi thay mặt Uỷ viên phụ trách điểm thi thường xuyên giám sát việc thực hiện Quy chế Tuyển sinh của trật tự viên, cán bộ coi thi và thí sinh; kiểm tra và nhắc nhở cán bộ coi thi triệt để thu giữ các tài liệu và phương tiện kỹ thuật do thí sinh mang trái phép vào phòng thi; lập biên bản xử lý kỷ luật đối với cán bộ coi thi và thí sinh vi phạm quy chế. 
3. Trật tự viên, công an (và kiểm soát quân sự nếu có). 
Người được phân công bảo vệ vòng nào có trách nhiệm giữ gìn trật tự an ninh tại vòng đó, không được hoạt động sang các vòng khác. 
- Không để bất kỳ người nào không có trách nhiệm vào khu vực thi và đến gần phòng thi. Không bỏ vị trí, không tiếp khách trong khi làm nhiệm vụ. Không được đi vào phòng thi, không trao đổi liên hệ với thí sinh. Không có trách nhiệm đối với những vấn đề thuộc nội dung, tổ chức và chỉ đạo thi. 
- Quản lý chặt chẽ những thí sinh ra khỏi khu vực thi. 
- Kịp thời báo cáo Uỷ viên phụ trách điểm thi về các tình huống xẩy ra trong lúc thi để kịp thời xử lý. 
- Riêng cán bộ, chiến sĩ công an được cử đến hỗ trợ các HĐTS còn có nhiệm vụ áp tải, bảo vệ an toàn đề thi và bài thi. 
4. Cán bộ y tế
- Có mặt thường xuyên trong suốt kỳ thi tại địa điểm do HĐTS quy định để xử lý các trường hợp thí sinh đau ốm. 
- Khi Uỷ viên phụ trách điểm thi thông báo có thí sinh đau ốm bất thường trong lúc đang thi, cán bộ y tế phải đến ngay để kịp thời điều trị hoặc cho đi bệnh viện cấp cứu, nếu cần thiết. 
- Nghiêm cấm việc lợi dụng khám chữa bệnh tại chỗ để có những hành động vi phạm quy chế.
Điều 25. Trách nhiệm của thí sinh trong kỳ thi 
1. Thí sinh phải có mặt tại trường đã đăng ký dự thi theo đúng thời gian và địa điểm ghi trong giấy báo dự thi để làm thủ tục dự thi: 
- Xuất trình giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời (đối với những thí sinh vừa dự kỳ thi tốt nghiệp) hoặc bản sao bằng tốt nghiệp (đối với những thí sinh đã tốt nghiệp những năm học trước).
- Nộp lệ phí dự thi. 
- Nhận thẻ dự thi (nếu phiếu báo dự thi không kiêm thẻ dự thi). 
- Nhận phòng thi và nghe phổ biến quy chế dự thi. 
Nếu thấy có những sai sót hoặc nhầm lẫn về họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, đối tượng, khu vực ưu tiên, khối thi, ngành thi ... thí sinh phải báo cáo HĐTS để điều chỉnh ngay. Trường hợp bị mất thẻ dự thi hoặc các giấy tờ cần thiết khác, thí sinh phải báo cáo và làm cam đoan để Uỷ viên phụ trách điểm thi xem xét theo uỷ nhiệm của Trưởng ban Coi thi. 
2. Thí sinh phải có mặt tại địa điểm thi đúng ngày, giờ quy định. Thí sinh đến chậm quá 15 phút sau khi đã bóc đề thi không được dự thi. Vắng mặt một buổi thi, không được thi tiếp các buổi sau.
3. Khi vào phòng thi, thí sinh phải tuân thủ các quy định sau đây: 
- Trước buổi thi đầu tiên, trình thẻ dự thi cho cán bộ coi thi. 
- Xuất trình giấy chứng minh thư khi CBCT yêu cầu. 
- Chỉ được mang vào phòng thi bút viết, bút chì, compa, tẩy, thước kẻ, thước tính, máy tính điện tử không có thẻ nhớ và không soạn thảo được văn bản, giấy thấm chưa dùng, giấy nháp. Giấy nháp phải có chữ ký của cán bộ coi thi. 
- Không được mang vào phòng thi giấy than, bút xoá, các tài liệu, vũ khí, chất gây nổ, gây cháy, bia, rượu, phương tiện kỹ thuật thu, phát, truyền tin, ghi âm, ghi hình, thiết bị chứa đựng thông tin có thể lợi dụng để làm bài thi và các vật dụng khác. Không được hút thuốc trong phòng thi. 
- Trước khi làm bài phải ghi đầy đủ số báo danh (cả phần chữ và phần số) vào giấy thi và nhất thiết phải yêu cầu cả hai CBCT ký tên vào giấy thi. 
- Bài làm phải viết rõ ràng, sạch sẽ, không nhàu nát, không đánh dấu hoặc làm ký hiệu riêng. Nghiêm cấm làm bài bằng hai thứ mực, mực đỏ, bút chì (trừ hình tròn vẽ bằng com pa được dùng bút chì). Các phần viết hỏng phải dùng thước gạch chéo. 
Phải bảo vệ bài làm của mình và nghiêm cấm mọi hành vi gian lận, không được xem bài của thí sinh khác, không được trao đổi ý kiến, trao đổi tài liệu khi làm bài. 
- Nếu cần hỏi CBCT điều gì phải hỏi công khai. Phải giữ gìn trật tự, im lặng trong phòng thi. Trường hợp ốm đau bất thường phải báo cáo để CBCT xử lý. 
Khi hết giờ thi phải ngừng làm bài và nộp bài cho CBCT. Không làm được bài, thí sinh cũng phải nộp giấy thi. Khi nộp bài, thí sinh phải tự ghi rõ số tờ giấy thi đã nộp và ký tên xác nhận vào bản danh sách theo dõi thí sinh. 
- Thí sinh chỉ được ra khỏi phòng thi và khu vực thi sau 2/3 thời gian làm bài và sau khi đã nộp bài làm, đề thi cho cán bộ coi thi trừ trường hợp ốm đau cần cấp cứu do người phụ trách điểm thi quyết định. 
MỤC 3 
CÔNG TÁC CHẤM THI 
Điều 26. Khu vực chấm thi 
Khu vực chấm thi bao gồm nơi chấm thi và nơi bảo quản bài thi. Nơi chấm thi và nơi bảo quản bài thi cần được bố trí gần nhau, liên tục có người bảo vệ suốt ngày đêm, có đủ phương tiện phòng cháy, chữa cháy, bảo mật và bảo quản bài thi. 
Cửa được khoá bằng 2 khoá khác nhau, Trưởng môn chấm thi giữ chìa của một khoá, chìa của một khoá khác giao cho uỷ viên Ban Thư ký giữ. Cửa chỉ được mở khi có mặt cả hai người giữ chìa khoá. 
Tuyệt đối không được mang bất cứ tài liệu, giấy tờ riêng nào khi vào và ra khỏi khu vực chấm thi. 
Điều 27. Quy trình chấm thi 
Trưởng môn chấm thi tập trung toàn bộ cán bộ chấm thi tiến hành chấm thi theo quy trình chấm hai vòng độc lập. Nghiêm cấm sử dụng các loại bút xoá khi chấm thi. 
a. Lần chấm thứ nhất 
Trưởng Ban chấm thi duyệt phiếu chấm riêng cho từng môn được thiết kế phù hợp với đáp án và thang điểm chi tiết do Trưởng ban đề thi phê duyệt. Đối với những trường sử dụng đề thi chung của Bộ GD&ĐT, phiếu chấm phải đúng mẫu quy định của Bộ GD&ĐT. 
Sau khi đánh số phách, rọc phách và ghép vào mỗi bài thi một phiếu chấm, Ban Thư ký giao túi bài thi cho Trưởng môn chấm thi để bốc thăm nguyên túi cho cán bộ chấm. Không xé lẻ túi bài thi giao riêng cho từng người. 
Trước khi chấm, cán bộ chấm thi kiểm tra từng bài xem có đủ số tờ, đủ số phách không và gạch chéo tất cả những phần giấy trắng còn thừa do thí sinh không viết hết. Không chấm những bài làm trên giấy khác với giấy dùng cho kỳ thi đó, bài làm trên giấy nháp, bài có hai thứ chữ khác nhau, bài có viết bằng mực đỏ, bút chì hoặc có viết vẽ những nội dung không liên quan đến bài thi, bài thi nhàu nát hoặc nghi vấn có đánh dấu. Những bài thi này giao lại cho Trưởng môn chấm thi xử lý theo quy định tại Điều 40 Quy chế Tuyển sinh. 
Khi chấm lần thứ nhất, ngoài những nét gạch chéo trên các phần giấy còn thừa, cán bộ chấm thi tuyệt đối không ghi gì vào bài làm của thí sinh. Điểm thành phần, điểm toàn bài và các nhận xét (nếu có) được ghi vào phiếu chấm của từng bài. Trên phiếu chấm ghi rõ họ, tên và chữ ký của cán bộ chấm thi. 
Chấm xong túi nào, cán bộ chấm thi giao túi ấy cho Trưởng môn chấm thi để bàn giao cho Ban Thư ký. 
b. Lần chấm thứ hai 
Sau khi chấm lần thứ nhất, Ban Thư ký rút các phiếu chấm thi ra rồi giao túi bài thi cho Trưởng môn chấm thi bốc thăm cho người chấm lần thứ hai. 
Khi bốc thăm túi bài thi cho cán bộ chấm lần thứ 2, Trưởng môn chấm thi phải có biện pháp để túi bài thi không giao trở lại người đã chấm lần thứ 1. 
Người chấm thi lần thứ hai chấm trực tiếp vào bài làm của thí sinh. Điểm chấm từng ý nhỏ phải ghi tại lề bài thi ngay cạnh ý được chấm, sau đó ghi điểm thành phần, điểm toàn bài vào ô quy định và ký tên vào tất cả các tờ giấy làm bài của thí sinh. 
Chấm xong túi nào, cán bộ chấm thi giao túi ấy cho Trưởng môn chấm thi để bàn giao cho Ban Thư ký. 
Điều 28. Chấm bài thi và làm biên bản chấm thi 
1. Thang điểm và hệ số 
- Thang điểm chấm thi là thang điểm 10. Các ý nhỏ được chấm điểm lẻ đến 0,25 điểm. Nếu điểm toàn bài có điểm lẻ từ 0,25 đến dưới 0,5 thì quy tròn thành 0,5; có điểm lẻ từ 0,75 thì quy tròn thành 1,0. 
Riêng các môn năng khiếu, có thể theo thang điểm khác, nhưng điểm toàn bài phải quy về thang điểm 10 bậc. Cán bộ chấm thi chỉ chấm theo thang điểm 10. Việc tính hệ số do máy tính thực hiện. 
- Chỉ các môn năng khiếu và ngoại ngữ mới nhân hệ số. Trong giấy chứng nhận kết quả thi, chỉ ghi điểm môn thi chưa nhân hệ số. Khi thông báo điểm trúng tuyển (tổng điểm 3 môn thi), nhất thiết phải nói rõ môn nào nhân hệ số và hệ số mấy. 
- Cán bộ chấm thi phải chấm bài đúng theo thang điểm và đáp án chính thức đã được Chủ tịch HĐTS phê duyệt (đối với các trường tự ra đề thi) hoặc Trưởng ban Đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt (đối với các trường dùng chung đề thi của Bộ GDĐT). Khi chấm, cán bộ chấm thi không quy tròn điểm. Những bài làm đúng, có cách giải sáng tạo, độc đáo khác với đáp án có thể được thưởng điểm. Mức điểm thưởng do cán bộ chấm thi đề xuất và do Trưởng môn chấm thi trình Trưởng ban Chấm thi quyết định, nhưng không vượt quá 1 điểm. 
2. Xử lý kết quả chấm và làm biên bản chấm thi 
Ban thư ký so sánh kết quả chấm và xử lý như sau: 
a) Xử lý kết quả 2 lần chấm: 
Tình huống
Cách xử lý
Điểm toàn bài hoặc điểm thành phần lệch nhau:
- 0,25 điểm đối với môn khoa học tự nhiên và ngoại ngữ.
- 0,5 đến dưới 1,0 điểm đối với môn khoa học xã hội.
Hai cán bộ chấm thảo luận thống nhất điểm rồi ghi điểm và ký vào bài thi.
Điểm toàn bài lệch nhau:
- Từ 0,5 đến 1,0 điểm đối với môn khoa học tự nhiên và ngoại ngữ.
- Từ 1,0 đến 1,5 điểm đối với môn khoa học xã hội.
Hai cán bộ chấm đối thoại và báo cáo Trưởng môn chấm thi để thống nhất điểm, sau đó ghi điểm và ký vào bài thi. Nếu đối thoại không thống nhất được điểm thì Trưởng môn chấm thi quyết định.
Điểm toàn bài lệch nhau:
- Trên 1,0 điểm đối với môn khoa học tự nhiên và ngoại ngữ.
- Trên 1,5 điểm đối với môn khoa học xã hội.
Trưởng môn chấm thi tổ chức chấm lần thứ 3 trực tiếp vào bài thi của thí sinh bằng mực màu khác.
 b) Xử lý kết quả 3 lần chấm: 
Tình huống
Cách xử lý
Nếu kết quả 2 trong 3 lần giống nhau
Trưởng môn chấm thi lấy điểm giống nhau làm điểm chính thức rồi ghi điểm và ký vào bài thi.
Nếu kết quả 3 lần chấm lệch nhau lớn nhất là:
- Đến 2,0 điểm đối với môn khoa học tự nhiên và ngoại ngữ.
- Đến 2,5 điểm đối với môn khoa học xã hội.
Trưởng môn chấm thi lấy điểm trung bình cộng của 3 lần chấm làm điểm chính thức, quy tròn điểm rồi ghi điểm và ký vào bài thi.
Nếu kết quả 3 lần chấm lệch nhau lớn nhất là:
- Trên 2,0 điểm đối với môn khoa học tự nhiên và ngoại ngữ.
- Trên 2,5 điểm đối với môn khoa học xã hội.
Trưởng môn chấm thi tổ chức chấm tập thể và đề xuất hình thức kỷ luật đối với cán bộ chấm thi theo Quy chế Tuyển sinh.
3. Việc ký hợp đồng chấm thi 
Khi không đủ số lượng cán bộ chấm thi theo quy định, các trường ký hợp đồng chấm thi với các trường có đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản, nhưng Ban Thư ký HĐTS trường tổ chức kỳ thi phải chịu trách nhiệm về các khâu: dồn túi, đánh số phách, rọc phách, in Biểu số 4, đáp án và thang điểm, mẫu phiếu chấm thi. Trường nhận chấm thi phải ra quyết định thành lập Ban Chấm thi và chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định về công tác chấm thi nói tại các Điều 26, 27, 28, 29 của Quy chế Tuyển sinh. 
Điều 29. Quản lý điểm bài thi 
Sau khi chấm thi xong, các trường công bố điểm thi của thí sinh trên mạng Giáo dục (www.edu.net.vn ) và trên các phương tiện thông tin đại chúng, chậm nhất là ngày 15/8 hằng năm.
Tất cả các tài liệu liên quan đến điểm thi đều phải niêm phong và do Trưởng ban Thư ký trực tiếp bảo quản. 
MỤC 4 
PHÚC KHẢO VÀ KIỂM TRA VIỆC PHÚC KHẢO 
Điều 30. Tổ chức phúc khảo và giải quyết khiếu nại về điểm thi 
1. Thời hạn phúc khảo 
Sau khi công bố điểm thi, HĐTS chỉ nhận đơn xin phúc khảo các môn văn hoá của thí sinh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày công bố điểm thi và phải trả lời đương sự chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày hết hạn nhận đơn. Thí sinh nộp đơn xin phúc khảo phải nộp lệ phí theo quy định của trường. Nếu sau khi phúc khảo phải sửa điểm theo quy chế thì HĐTS hoàn lại khoản lệ phí này cho thí sinh. 
Không phúc khảo các môn năng khiếu. 
2. Tổ chức phúc khảo 
a. Việc tổ chức phúc khảo tiến hành theo từng môn thi dưới sự điều hành trực tiếp của Trưởng ban Phúc khảo. Địa điểm làm việc của Ban Phúc khảo do Chủ tịch HĐTS quy định và cũng được bảo vệ như khu vực chấm thi. 
b. Trước khi bàn giao bài thi cho Ban Phúc khảo, Ban Thư ký HĐTS tiến hành các việc sau đây: 
- Tra cứu biểu số 3 để từ số báo danh, tìm ra số phách bài thi. Rút bài thi, đối chiếu với danh sách theo dõi thí sinh để kiểm tra đối chiếu số tờ giấy thi. 
- Kiểm tra sơ bộ tình trạng bài thi, đối chiếu những phần thí sinh xin phúc khảo trong bài và trong đơn. Cộng lại các điểm thành phần, đối chiếu với điểm đã công bố để phát hiện xem có sai sót hoặc xô phách không. Nếu phát hiện có sự bất thường thì lập biên bản báo cáo để Chủ tịch HĐTS quyết định. 
- Tập hợp các bài của một môn vào một túi hoặc nhiều túi, ghi rõ số bài và số tờ của từng bài hiện có trong túi và bàn giao cho Ban Phúc khảo. Việc giao nhận bài giữa Ban Thư ký và Ban Phúc khảo cần theo đúng các thủ tục quy định như khi chấm đợt đầu. 
- Trong khi tiến hành các công việc liên quan đến việc phúc khảo phải có ít nhất từ hai người trở lên. Tuyệt đối giữ bí mật về quan hệ giữa số báo danh và số phách, địa danh bài thi và không được ghép đầu phách. 
Việc phúc khảo mỗi bài thi do 2 cán bộ chấm thi thực hiện riêng biệt trực tiếp trên bài làm của thí sinh bằng mực có mầu khác. 
c) Các bài thi sau khi phúc khảo được Ban Thư ký xử lý như sau: 
+ Nếu kết quả hai lần chấm giống nhau thì giao bài thi cho Trưởng ban Phúc khảo quy tròn điểm và ký xác nhận điểm chính thức. 
+ Nếu kết quả hai lần chấm có sự chênh lệch thì rút bài thi giao cho Trưởng ban Phúc khảo tổ chức chấm lần thứ ba trực tiếp trên bài làm của thí sinh bằng mực màu khác. 
Nếu kết quả của hai trong ba lần giống nhau thì lấy điểm giống nhau làm điểm chính thức. Nếu kết quả của cả ba lần chấm lệch nhau thì Trưởng ban Phúc khảo lấy điểm trung bình cộng của 3 lần chấm làm điểm chính thức. Trưởng ban Phúc khảo quy tròn điểm rồi ký tên xác nhận. 
Trong trường hợp phúc khảo bài thi mà thí sinh chuyển từ diện không trúng tuyển thành trúng tuyển (và ngược lại) hoặc lệch nhau từ 0,5 điểm trở lên thì HĐTS phải tổ chức đối thoại trực tiếp giữa cán bộ chấm thi đợt đầu và cán bộ phúc khảo (có ghi biên bản) đối với tất cả bài thi của thí sinh có sự điều chỉnh điểm. Nếu HĐTS trường khẳng định chấm đợt đầu sai tới mức nói trên thì HĐTS trường công bố công khai danh sách cán bộ chấm thi đợt đầu để rút kinh nghiệm hoặc nếu thấy có biểu hiện tiêu cực thì xử lý theo Điều 38 của Quy chế Tuyển sinh. 
Điểm phúc khảo sau khi đối thoại giữa hai cặp chấm và được Trưởng ban Phúc khảo trình Chủ tịch HĐTS ký duyệt là điểm chính thức của bài thi. 
3. Điều chỉnh điểm bài thi Sau khi công bố điểm thi nếu phát hiện có sự nhầm lẫn hay sai sót về điểm bài thi, Ban Phúc khảo phải xem xét và chỉ điều chỉnh lại điểm bài thi (lên hoặc xuống) trong các trường hợp sau: 
a. Cộng hoặc ghi điểm vào biên bản chấm thi không chính xác. 
b. Thất lạc bài thi nay tìm thấy hoặc thiếu bài thi do lỗi của HĐTS trường nay đã được thi bổ sung và chấm xong. 
c. Điểm phúc khảo đã được Trưởng ban Phúc khảo ký xác nhận là điểm chính thức hoặc đã được Trưởng ban Phúc khảo trình Chủ tịch HĐTS ký duyệt sau khi đối thoại giữa hai cặp chấm. Điểm được điều chỉnh do Trưởng ban Phúc khảo trình Chủ tịch HĐTS quyết định, sau đó báo cáo Bộ GD&ĐT và thông báo cho các Sở GD&-ĐT tỉnh, thành phố và thí sinh. 
Điều 31. Kiểm tra kết quả phúc khảo 
Sau khi nhận được báo cáo kết quả phúc khảo của HĐTS trường, nếu xét thấy cần thiết, Bộ GD&ĐT thành lập Hội đồng kiểm tra kết quả phúc khảo. 
Đối với các trường ĐH, CĐ, Hội đồng kiểm tra của Bộ do Vụ trưởng Vụ Đại học làm Chủ tịch, Phó Vụ trưởng Vụ Đại học giúp Vụ trưởng theo dõi công tác tuyển sinh làm Phó Chủ tịch và một số thành viên là những cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao không công tác tại trường có bài thi cần kiểm tra. 
Hội đồng kiểm tra của Bộ GD&ĐT có thẩm quyền quyết định cuối cùng về điểm chính thức của bài thi. Việc đối thoại giữa Hội đồng kiểm tra phúc khảo với người chấm sơ khảo, phúc khảo do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quyết định. 
Điều 32. Tổ chức, quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng chấm thẩm định 
1. Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra quyết định thành lập Hội đồng chấm thẩm định để chấm thẩm định toàn bộ hoặc một phần số bài thi của một hoặc một số trường ĐH, CĐ. 
2. Quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng chấm thẩm định do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định.
3. Hội đồng chấm thẩm định của Bộ GD&ĐT có thẩm quyền quyết định cuối cùng về điểm chính thức của bài thi. 
4. Hội đồng chấm thẩm định của Bộ GD&ĐT được sử dụng con dấu của Bộ GD&ĐT. 
5. Việc tổ chức đối thoại hay không đối thoại giữa người chấm sơ khảo, phúc khảo, thẩm định (nếu có đề nghị) do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quyết định. 
Chương IV 
Xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển 
Điều 33. Quy định về việc xây dựng điểm trúng tuyển 
1. Khung điểm ưu tiên theo đối tượng và khu vực tuyển sinh 
a) Mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa các nhóm đối tượng là 1,0 (một điểm), giữa hai khu vực kế tiếp là 0,5 (nửa điểm). 
b) Đối với các trường đóng tại vùng dân tộc thiểu số, mức chênh lệch điểm trúng tuyển giữa các nhóm đối tượng được phép lớn hơn 1 nhưng không quá 3 để số thí sinh trúng tuyển là người dân tộc thiểu số đạt tỷ lệ cần thiết. 
c) Đối với các trường CĐ hoặc các khoá đào tạo theo địa chỉ sử dụng được phép định điểm trúng tuyển theo tỉnh, huyện, vùng với mức chênh lệch điểm giữa các tỉnh, huyện (điểm chênh lệch khu vực) lớn hơn 0,5 nhưng không quá 3 để tuyển đủ chỉ tiêu đã phân bổ công khai cho địa phương trước kì thi tuyển sinh. 
2. Trình tự xây dựng điểm trúng tuyển 
Nguyên tắc chung 
Các trường ĐH, CĐ căn cứ chỉ tiêu tuyển sinh được giao, sau khi trừ số thí sinh được tuyển thẳng (kể cả số sinh viên dự bị của trường và sinh viên các trường Dự bị đại học dân tộc Trung ương được phân về trường), căn cứ thống kê điểm do máy tính cung cấp đối với các đối tượng và khu vực dự thi, căn cứ quy định về khung điểm ưu tiên và vùng tuyển, Ban Thư ký trình HĐTS trường xem xét quyết định phương án điểm trúng tuyển theo bảng mẫu tại Phụ lục 1 của Quy chế Tuyển sinh để tuyển đủ chỉ tiêu được giao. 
Các trường xây dựng điểm trúng tuyển theo khối thi hoặc theo ngành học thích hợp. 
Quy định cụ thể: 
a) Đối với những trường ĐH sử dụng chung đề thi hoặc chung kết quả thi để xét tuyển. 
Căn cứ kết quả thi của thí sinh, Bộ GD & ĐT sẽ xác định và công bố điểm sàn xét tuyển đối với từng khối thi: A, B, C, D. 
Điểm trúng tuyển của các trường không được thấp dưới điểm sàn xét tuyển. 
Thí sinh có kết quả thi thấp dưới điểm sàn xét tuyển không được tuyển vào các trường sử dụng kết quả thi theo đề chung để xét tuyển.
Căn cứ nguyên tắc chung và quy định nói trên, các trường xác định điểm trúng tuyển đối với các nguyện vọng theo quy định: điểm trúng tuyển nguyện vọng sau không thấp hơn nguyện vọng trước, bảo đảm tỷ lệ trúng tuyển hợp lý giữa các nguyện vọng. 
Trong trường hợp chỉ tuyển được một nguyện vọng và điểm trúng tuyển vào trường thấp HĐTS trường báo cáo để Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét quyết định. 
Trước ngày 20/8 hằng năm, các trường ĐH, CĐ phải công bố điểm trúng tuyển đối với các nguyện vọng, gửi giấy triệu tập cho thí sinh trúng tuyển, trong đó ghi rõ kết quả thi của thí sinh; công bố chỉ tiêu và điều kiện xét tuyển (nếu còn chỉ tiêu để xét tuyển), gửi các Sở GD&ĐT giấy chứng nhận kết quả thi (có đóng dấu đỏ của trường) cho thí sinh không trúng tuyển để các Sở chuyển cho thí sinh. 
b) Đối với những trường ĐH, CĐ tổ chức thi tuyển sinh theo đề thi riêng, căn cứ nguyên tắc chung, xây dựng điểm trúng tuyển chỉ đối với thí sinh đã dự thi vào trường mình và chỉ tuyển thí sinh đã dự thi vào trường mình. 
c) Những trường có ngành năng khiếu, nếu không tổ chức thi vào những ngành này, được xét tuyển thí sinh trong vùng tuyển, đã dự thi vào ngành đó tại trường khác nếu các môn văn hoá thi theo đề chung của Bộ GDĐT. 
d) Bộ GD&ĐT xem xét chỉ đạo cụ thể một số trường và ngành đặc thù trong việc xây dựng điểm trúng tuyển và xét tuyển nhằm bảo đảm yêu cầu chất lượng và tỷ lệ trúng tuyển hợp lý giữa các nguyện vọng của thí sinh. 
Điều 34. Công bố điểm trúng tuyển và chứng nhận kết quả thi cho thí sinh 
1. Căn cứ bảng điểm trúng tuyển do Ban Thư ký HĐTS trường dự kiến, HĐTS quyết định điểm trúng tuyển sao cho số thí sinh trúng tuyển đến trường nhập học không vượt chỉ tiêu được giao. Nếu định điểm trúng tuyển không hợp lý dẫn đến vượt chỉ tiêu, Bộ GD&ĐT sẽ yêu cầu HĐTS định lại điểm và sẽ xem xét xử lý theo quy định lại Điều 38 của Quy chế Tuyển sinh. Điểm trúng tuyển phải báo cáo Bộ GD&ĐT và thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. 
2. Trường hợp thí sinh bị thiếu điểm môn thi do lỗi của HĐTS làm thất lạc bài thi thì Chủ tịch HĐTS trường có trách nhiệm thông báo cho Sở GD&ĐT tỉnh, thành phố và thí sinh biết quyết định tổ chức thi bổ sung, thời gian thi bổ sung. Thí sinh không dự thi bổ sung thì không được xét tuyển. Trường hợp thí sinh bị thiếu điểm môn thi do lỗi của HĐTS trường nhưng tổng số điểm các môn thi còn lại bằng hoặc cao hơn điểm xét tuyển vào trường đã dự thi đối với đối tượng và khu vực dự thi của thí sinh đó thì Chủ tịch HĐTS trường gọi thí sinh vào trường mà không cần tổ chức thi bổ sung. 
Điều 35. Triệu tập thí sinh trúng tuyển đến trường 
1. Chủ tịch HĐTS trường trực tiếp xét duyệt danh sách thí sinh trúng tuyển do Ban Thư ký trình và ký giấy triệu tập thí sinh trúng tuyển nhập học. Trong giấy triệu tập cần ghi rõ kết quả thi của thí sinh và những thủ tục cần thiết thí sinh phải có khi vào học. 
Các trường khai giảng năm học chậm nhất vào tháng 10. Ngày 15 tháng 10 hàng năm các trường lập danh sách thí sinh trúng tuyển (theo mẫu thống nhất) và công bố trên mạng Internet. 
2. Trước khi được xét tuyển chính thức, thí sinh phải qua kiểm tra sức khoẻ toàn diện do các trường tổ chức. Việc khám sức khoẻ phải theo đúng hướng dẫn của Liên Bộ GD&ĐT và Bộ Y tế. Giấy khám sức khoẻ do Hội đồng khám sức khoẻ của trường cấp và được bổ sung vào hồ sơ quản lý học sinh, sinh viên. 
3. Thí sinh trúng tuyển vào trường cần nộp những giấy tờ sau đây: 
a) Học bạ. 
b) Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời (THPT, THCN và tương đương) đối với những người trúng tuyển ngay trong năm tốt nghiệp hoặc bằng tốt nghiệp đối với những người đã tốt nghiệp các năm trước. Những người mới nộp giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời, đầu năm học sau phải xuất trình bản chính bằng tốt nghiệp để đối chiếu kiểm tra. 
c) Giấy khai sinh. 
d) Các giấy tờ xác nhận đối tượng và khu vực ưu tiên (nếu có) như giấy chứng nhận con liệt sĩ, thẻ thương binh hoặc được hưởng chính sách như thương binh của bản thân hoặc của bố mẹ, hộ khẩu thường trú của thí sinh... Các giấy tờ nói ở điểm a, b, c, d của khoản này, các trường đều thu bản photocopy sau khi đã kiểm tra, đối chiếu với bản chính. 
e) Giấy triệu tập trúng tuyển. g) Hồ sơ trúng tuyển. 
4. Thí sinh đến trường nhập học chậm sau 15 ngày trở lên kể từ ngày nhập học ghi trong giấy triệu tập trúng tuyển, nếu không có lý do chính đáng thì coi như bỏ học. Nếu đến chậm do ốm đau, tai nạn, có giấy xác nhận của bệnh viện quận, huyện trở lên hoặc do thiên tai có xác nhận của UBND quận, huyện trở lên, các trường xem xét quyết định tiếp nhận vào học hoặc bảo lưu kết quả điểm thi để vào học năm sau. 
5. Những thí sinh bị địa phương giữ lại không cho đi học có quyền khiếu nại lên đến UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Bộ GD&ĐT. Chỉ có Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, mới có quyền ký quyết định giữ lại người đã trúng tuyển, nhưng phải giải thích cho đương sự rõ lý do và căn cứ pháp luật của quyết định đó. 
Những trường hợp địa phương hoặc trường giải quyết chưa đúng mà học sinh, sinh viên có đơn khiếu nại, sau khi đã cùng các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương xem xét, Bộ GD&ĐT sẽ ra quyết định cuối cùng về việc học tập của sinh viên, học sinh. 
Điều 36. Kiểm tra kết quả thi và hồ sơ của thí sinh trúng tuyển 
1. Sau kỳ thi tuyển sinh, Hiệu trưởng giao cho Phòng hoặc Ban chức năng tiến hành kiểm tra kết quả thi của tất cả số thí sinh đã trúng tuyển vào trường mình về tính hợp pháp của tất cả các bài thi của từng thí sinh; việc thực hiện quy chế ở tất cả các khâu công tác chấm thi (dồn túi, đánh số phách, quy trình chấm hai lần độc lập, biên bản chấm thi, chấm điểm bài thi, quản lý điểm bài thi...), so sánh điểm trên bài thi với điểm ghi ở biên bản chấm thi, ở sổ điểm và ở giấy chứng nhận kết quả thi. Nếu phát hiện thấy các trường hợp vi phạm quy chế hoặc các trường hợp nghi vấn, cần lập biên bản kiến nghị Hiệu trưởng có biện pháp xác minh, xử lý theo Quy chế. 
2. Khi sinh viên trúng tuyển đến trường học, trường cử cán bộ thu nhận hồ sơ theo quy định tại Điều 35 của Quy chế Tuyển sinh. Sau khi đối chiếu kiểm tra bản chính học bạ, văn bằng tốt nghiệp, giấy khai sinh và các giấy tờ xác nhận khu vực, đối tượng ưu tiên của thí sinh, cán bộ trường ghi vào các giấy tờ nói trên: ngày, tháng, năm, "đã đối chiếu bản chính" rồi ghi rõ họ tên và ký. 
Trong quá trình thu nhận hồ sơ hoặc trong thời gian sinh viên đang theo học tại trường, nếu phát hiện hồ sơ giả mạo thì báo cáo lãnh đạo trường xử lý theo Quy chế. 
3. Các trường xét tuyển thí sinh không dự thi tại trường mình cần gửi danh sách thí sinh trúng tuyển cho Bộ Giáo dục và Đào tạo 1 bản còn 1 bản gửi cho trường chấm thi để kiểm tra, đối chiếu, ký xác nhận kết quả thi của thí sinh và gửi lại cho trường xét tuyển. 
CHƯƠNG V 
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM 
Điều 37. Khen thưởng 
Những người có nhiều đóng góp, tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển sinh được giao, tuỳ theo thành tích cụ thể, được Chủ tịch HĐTS trường, khen thưởng hoặc đề nghị Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh, thành phố khen thưởng. 
Quỹ khen thưởng lấy trong lệ phí tuyển sinh thu được. 
Điều 38. Xử lý cán bộ tuyển sinh vi phạm quy chế 
1. Người tham gia công tác tuyển sinh có hành vi vi phạm quy chế (bị phát hiện trong khi làm nhiệm vụ hoặc sau kỳ thi tuyển sinh), nếu có đủ chứng cứ, tuỳ theo mức độ nặng nhẹ, sẽ bị cơ quan quản lý cán bộ áp dụng, vận dụng quy định tại Pháp lệnh Cán bộ, Công chức và Nghị định số 97/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 để xử lý kỷ luật thích đáng theo các hình thức sau đây: 
a. Khiển trách đối với những người phạm lỗi nhẹ trong khi thi hành nhiệm vụ. 
b. Cảnh cáo đối với những người vi phạm một trong các lỗi sau đây: 
- Để cho thí sinh tự do quay cóp, mang và sử dụng tài liệu hoặc các phương tiện kỹ thuật thu, phát, truyền tin, ghi âm... tại phòng thi, bị cán bộ giám sát phòng thi hoặc cán bộ thanh tra tuyển sinh phát hiện và lập biên bản. 
- Làm mất bài thi trong khi thu bài, vận chuyển hoặc chấm thi. 
- Chấm thi hoặc cộng điểm bài thi có nhiều sai sót. 
- Để lộ điểm thi của thí sinh trước khi HĐTS trường chính thức công bố điểm xét tuyển. 
- Ra đề thi vượt quá phạm vi chương trình THPT. 
- Truyền dữ liệu tuyển sinh không đúng cấu trúc, không đúng thời hạn, không đúng quy định của Bộ GD&ĐT. 
- Không thực hiện đúng chế độ báo cáo quy định tại Điều 41 của Quy chế Tuyển sinh. 
c. Tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức hoặc chuyển đi làm công tác khác (nếu là cán bộ công chức, viên chức trong các cơ quan doanh nghiệp Nhà nước), buộc thôi học (nếu là sinh viên đi coi thi) đối với những người vi phạm một trong các lỗi sau đây: 
- Ra đề thi sai. 
- Tham gia vào các hành động tiêu cực như: đưa đề thi ra ngoài hoặc đưa bài giải từ ngoài vào phòng thi trong lúc đang thi. 
- Trực tiếp giải bài rồi hướng dẫn cho thí sinh lúc đang thi. 
- Lấy bài thi của thí sinh làm được giao cho thí sinh khác. 
- Gian lận khi chấm thi, cho điểm không đúng quy định, vượt khung hoặc hạ điểm của thí sinh.
d. Buộc thôi việc hoặc bị truy tố trước pháp luật đối với người vi phạm một trong các lỗi sau đây: trong quá trình làm đề thi, coi thi, thu bài, bảo quản, kiểm kê, rọc phách, làm sổ điểm, triệu tập thí sinh trúng tuyển đã có các hành vi sai phạm: 
- Làm lộ đề thi, mua, bán đề thi. 
- Làm lộ số phách bài thi. 
- Sửa chữa, thêm, bớt vào bài làm của thí sinh. 
- Chữa điểm trên bài thi, trên biên bản chấm thi hoặc trong sổ điểm. 
- Đánh tráo bài thi, số phách hoặc điểm thi của thí sinh. 
- Man trá trong việc xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển (kể cả những hành vi sửa chữa học bạ, gian lận trong việc tính điểm thưởng, điểm thi tốt nghiệp THPT để đưa học sinh vào diện tuyển thẳng hoặc diện trúng tuyển). 
Đối với các sai phạm khác tuỳ theo tính chất, mức độ và ảnh hưởng tác hại mà xử lý theo một trong các hình thức đã nêu ở Điều này. 
Trong trường hợp đề thi bị lộ hoặc xảy ra sự cố vi phạm nghiêm trọng Quy chế Tuyển sinh thì Hiệu trưởng, Chủ tịch HĐTS và các Trưởng ban hữu quan sẽ bị thi hành kỷ luật từ hình thức cảnh cáo đến buộc thôi việc hoặc bị truy tố trước pháp luật tuỳ hậu quả, tác hại và mức độ liên quan. 
đ. Những cán bộ, sinh viên, học sinh các trường ĐH, CĐ, THCN, THPT tuy không tham gia công tác tuyển sinh nhưng nếu có các hành động tiêu cực như: thi hộ, tổ chức lấy đề thi ra và đưa bài giải vào cho thí sinh, gây rối làm mất trất tự tại khu vực thi sẽ bị buộc thôi việc (nếu là cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan doanh nghiệp Nhà nước), đình chỉ học tập có thời hạn hoặc buộc thôi học (nếu là học sinh, sinh viên). 
Những hình thức kỷ luật nói trên do Hiệu trưởng hoặc Chủ tịch HĐTS trường quyết định, nếu người vi phạm thuộc quyền quản lý của nhà trường hoặc lập biên bản đề nghị Bộ GD&ĐT có biện pháp xử lý, nếu người vi phạm không thuộc quyền quản lý của nhà trường. Trong thời gian thi và chấm thi, nếu các Đoàn hoặc cán bộ thanh tra tuyển sinh được thành lập, giao nhiệm vụ theo Quy chế của Bộ GD&ĐT phát hiện thấy các trường hợp vi phạm quy chế rõ ràng thì lập biên bản tại chỗ và đề nghị Chủ tịch HĐTS trường xử lý ngay theo các quy định của Quy chế Tuyển sinh. e. Chủ tịch HĐTS và các cán bộ có liên quan thuộc Ban Đề thi, Ban Chấm thi của các trường ĐH, CĐ hoặc giảng viên các trường đại học, cao đẳng nhận làm đề thi tuyển sinh và chấm thi cho trường khác, nếu vi phạm các quy định hiện hành về ra đề thi, chấm thi đều bị xử lý theo các hình thức tương ứng của Điều này. g. Nếu định điểm xét tuyển không hợp lý dẫn đến vượt quá nhiều chỉ tiêu được giao thì tuỳ theo mức độ sai phạm, Chủ tịch HĐTS sẽ bị xử lý từ hình thức khiển trách đến cách chức và số thí sinh tuyển vượt chỉ tiêu sẽ bị khấu trừ vào chỉ tiêu tuyển sinh năm sau của trường. 
2. Các hình thức xử lý kỷ luật hành chính hoặc xử lý theo pháp luật nói tại khoản 1 Điều này, do cơ quan quản lý cán bộ ra quyết định theo thông báo về sai phạm của cơ quan tổ chức kỳ thi, có thể kèm theo việc cấm đảm nhiệm những công việc có liên quan đến thi cử từ 1 đến 5 năm. 
3. Việc xử lý những cán bộ, giảng viên, giáo viên, nhân viên, cơ hữu của các trường ngoài công lập không phải là công chức Nhà nước vi phạm Quy chế Tuyển sinh do Hiệu trưởng quyết định theo mức xử lý quy định tại Điều này. 
Điều 39. Xử lý thí sinh dự thi vi phạm quy chế 
Đối với những thí sinh vi phạm quy chế đều phải lập biên bản và tuỳ mức độ nặng nhẹ xử lý kỷ luật theo các hình thức sau đây: 
1. Khiển trách áp dụng đối với những thí sinh phạm lỗi một lần: nhìn bài của bạn, trao đổi với bạn (hình thức này do cán bộ coi thi quyết định tại biên bản được lập). Thí sinh bị khiển trách trong khi thi môn nào sẽ bị trừ 25% số điểm thi của môn đó. 
2. Cảnh cáo đối với các thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau đây: 
- Đã bị khiển trách một lần nhưng trong giờ thi môn đó vẫn tiếp tục vi phạm Quy chế. 
- Mang vào phòng thi vũ khí, chất gây nổ, gây cháy, bia, rượu hoặc các vật dụng gây nguy hại khác. 
- Trao đổi bài làm hoặc giấy nháp cho bạn. 
- Chép bài của người khác. Những bài thi đã có kết luận là giống nhau thì xử lý như nhau. Nếu người bị xử lý có đủ bằng chứng chứng minh mình bị quay cóp thì Chủ tịch HĐTS trường có thể xem xét giảm từ mức kỷ luật cảnh cáo xuống mức khiển trách. Người bị kỷ luật cảnh cáo trong khi thi môn nào sẽ bị trừ 50% số điểm thi của môn đó. Hình thức kỷ luật cảnh cáo do cán bộ coi thi lập biên bản, thu tang vật và ghi rõ hình thức kỷ luật đã đề nghị trong biên bản. 3. Đình chỉ thi đối với các thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau đây: 
- Đã bị cảnh cáo một lần nhưng trong giờ thi môn đó vẫn tiếp tục vi phạm Quy chế. 
- Khi vào phòng thi còn mang theo tài liệu, phương tiện kỹ thuật thu, phát, truyền tin, ghi âm, ghi hình, thiết bị chứa đựng thông tin có thể lợi dụng để làm bài thi. 
- Đưa đề thi ra ngoài hoặc nhận bài giải từ ngoài vào phòng thi. 
- Viết vẽ những nội dung không liên quan đến bài thi. 
- Có hành động gây gổ, đe doạ cán bộ có trách nhiệm trong kỳ thi hay đe doạ thí sinh khác. Hình thức đình chỉ thi do cán bộ coi thi lập biên bản, thu tang vật và do Uỷ viên phụ trách điểm thi quyết định. Thí sinh bị kỷ luật đình chỉ thi trong khi thi môn nào sẽ bị điểm không (0) môn đó; phải ra khỏi phòng thi ngay sau khi có quyết định của Uỷ viên phụ trách điểm thi nhưng không được ra khỏi khu vực thi cho đến khi hết giờ thi môn đó; không được thi các môn tiếp theo; không được dự các đợt thi kế tiếp trong năm đó tại các trường khác. 
4. Tước quyền vào học ở các trường ĐH, CĐ ngay trong năm đó và tước quyền tham dự kỳ thi tuyển sinh vào các trường ĐH, CĐ trong hai năm tiếp theo hoặc đề nghị các cơ quan có thẩm quyền truy tố trước pháp luật đối với những thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau đây: 
- Man khai hồ sơ để hưởng chính sách ưu tiên theo khu vực hoặc theo đối tượng trong tuyển sinh. 
- Sử dụng văn bằng tốt nghiệp không hợp pháp. 
- Nhờ người khác thi hộ, làm bài hộ dưới mọi hình thức. 
- Có hành động phá hoại kỳ thi, hành hung cán bộ hoặc thí sinh khác. Hình thức kỷ luật này do Chủ tịch HĐTS quyết định. Đối với các trường hợp vi phạm khác, tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, Hiệu trưởng, Chủ tịch HĐTS trường vận dụng xử lý kỷ luật theo các hình thức đã nêu ở Điều này. Việc xử lý kỷ luật thí sinh phải được công bố cho thí sinh biết. Nếu thí sinh không chịu ký tên vào biên bản thì hai cán bộ coi thi ký vào biên bản. Nếu giữa cán bộ coi thi và Uỷ viên phụ trách điểm thi không nhất trí về cách xử lý thì ghi rõ ý kiến hai bên vào biên bản để báo cáo Trưởng Ban Coi thi quyết định. 
Điều 40. Xử lý các trường hợp đặc biệt phát hiện được trong khi chấm thi 
Ban Thư ký, Ban Chấm thi có trách nhiệm phát hiện và báo cáo Trưởng Ban Chấm thi những bài thi có biểu hiện vi phạm Quy chế cần xử lý, ngay cả khi không có biên bản của Ban Coi thi. Sau khi Trưởng Ban Chấm thi đã xem xét và kết luận về các trường hợp vi phạm thì xử lý theo quy định dưới đây: 
1) Trừ điểm đối với bài thi 
Những bài thi bị nghi vấn có dấu hiệu đánh dấu thì tổ chức chấm tập thể, nếu đủ căn cứ xác đáng để các cán bộ chấm thi và Trưởng môn chấm thi kết luận là lỗi cố ý của thí sinh thì bị trừ 50% điểm toàn bài. 
2) Cho điểm (0) đối với những phần của bài thi hoặc toàn bộ bài thi 
- Chép từ các tài liệu mang trái phép vào phòng thi. 
- Những phần của bài thi viết trên giấy nháp, giấy không đúng quy định. - Nộp hai bài cho một môn thi hoặc bài thi viết bằng hai loại chữ khác nhau. 
3) Huỷ bỏ kết quả thi của cả 3 môn thi đối với những thí sinh 
- Phạm các lỗi quy định tại khoản 2 Điều này nhưng từ hai môn thi trở lên. 
- Viết vẽ những nội dung không liên quan đến bài thi. 
- Nhờ người khác thi hộ hoặc làm bài hộ cho người khác dưới mọi hình thức; sửa chữa, thêm bớt vào bài làm sau khi đã nộp bài; dùng bài của người khác để nộp. 
4) Đối với những bài thi nhàu nát hoặc nghi có đánh dấu (ví dụ: viết bằng hai thứ mực hoặc có nếp gấp khác thường) thì tổ chức chấm tập thể. Nếu Trưởng môn và hai cán bộ chấm thi xem xét kết luận có bằng chứng tiêu cực thì trừ điểm theo quy định. Nếu do thí sinh khác giằng xé làm nhầu nát thì căn cứ biên bản coi thi, tiến hành chấm bình thường và công nhận kết quả. 
Chương VI 
Chế độ báo cáo và lưu trữ 
Điều 41. Chế độ báo cáo 
- Trước ngày 20/6 hằng năm, các trường ĐH, CĐ báo cáo Bộ GD&ĐT địa điểm, số máy điện thoại, địa chỉ e-mail và máy Fax trực thi của trường. 
- Mỗi buổi thi, sau khi thí sinh làm bài được 2/3 thời gian, các trường ĐH, CĐ báo cáo nhanh bằng điện thoại hoặc Fax cho Bộ GD&ĐT về số lượng thí sinh dự thi, tình hình đề thi và những vấn đề liên quan. 
Ngay sau buổi thi cuối cùng, báo cáo nhanh về Bộ GD&ĐT tình hình kỳ thi tuyển sinh (theo mẫu của Bộ GD&ĐT). Những trường thi theo đề thi riêng cần gửi Bộ GD&ĐT đề thi và đáp án, thang điểm của mỗi môn thi. 
- Ngay sau khi Chủ tịch HĐTS ký duyệt điểm trúng tuyển của trường, báo cáo Bộ GD&ĐT biên bản xác định điểm trúng tuyển của trường. Trường hợp đặc biệt, trong đó có trường hợp điểm trúng tuyển quá thấp hoặc chỉ tuyển được một nguyện vọng, HĐTS trường báo cáo Bộ trưởng Bộ GD&ĐT xem xét quyết định. 
- Trước ngày 30/5 hằng năm truyền về Bộ GD&ĐT thống kê số lượng thí sinh dự thi theo quy định tại khoản 5 điều 22 của Quy chế Tuyển sinh. 
- Tháng 11 hằng năm các trường báo cáo Bộ GD&ĐT tình hình và kết quả thi tuyển sinh năm đó và dự kiến kế hoạch tuyển sinh năm sau (theo mẫu của Bộ GDĐT). Điều 42. Chế độ lưu trữ Tất cả các bài thi của thí sinh trúng tuyển, các tài liệu liên quan đến kỳ thi tuyển sinh, trường phải bảo quản và lưu trữ trong suốt khoá đào tạo theo quy định của Pháp lệnh lưu trữ. Hết khoá đào tạo Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Hội đồng xét huỷ. Bài thi của thí sinh không trúng tuyển lưu trữ một năm kể từ ngày thi. Các tài liệu và kết quả thi (tên thí sinh, điểm các môn thi, điểm trúng tuyển) phải lưu trữ lâu dài.

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 
Nguyễn Minh Hiển
(đã ký)

Các tư liệu khác 

12

Các tư liệu đã đăng 

12


Bạn nên biết

  Tra điểm thi ĐH,CĐ

  Đề thi - Đáp án thi ĐH

  HD các trường cập nhật thông tin

Ý kiến bạn
Ngành nghề mà bạn coi là NÓNG nhất và khoái nhất hiện nay?
Ai thường đưa ra lời khuyên, giúp bạn lựa chọn nghề nghiệp?
Thông tin trên ts.edu.net giúp bạn đến đâu trong việc lựa chọn nghề nghiệp?